
1 . Nhận thức chung về phong cách và phong cách Hồ Chí Minh
Khái niệm phong cách được bàn đến từ lâu ở phương Đông và phương Tây. Phong cách được hiểu theo hai nghĩa sau:
Thứ nhất, phong cách là cách thức riêng thể hiện ở các tác phẩm (công trình) văn hoá, nghệ thuật của một tác giả, một nghệ sĩ, một thời đại một xứ sở.
Thứ hai, phong cách bao gồm phong độ, phẩm cách của con người. Phong độ là dáng vẻ, sắc thái bề ngoài. Phẩm cách là cách ứng xử, giao tiếp, cung cách hoạt động, thể hiện những phẩm chất về tư tưởng, tình cảm, nội tâm bên trong của con người.
Phong cách mà chúng ta đề cập trong bài này được hiểu chủ yếu theo nghĩa thứ hai.
Phong cách hình thành và chịu tác động của các điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hoá, xã hội và kinh tế… qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, phong cách người Việt Nam không giống phong cách người Trung Hoa và khác với phong cách người Pháp, người Mỹ. Ngay trong một quốc gia cũng có thể có phong cách khác nhau.
Đối với một người thì phong cách có đặc điểm gắn với truyền thống, tập quán, thói quen do hoàn cảnh sống của người đó quy định, đồng thời nó mang dấu ấn cá nhân rất rõ. Con người có thể tiếp thu những truyền thống tốt, tập quán đẹp và khắc phục thói quen xấu ở mức độ như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ và khí chất của người đó. Cùng một hoàn cảnh sống như nhau nhưng ở từng người có phong cách không hoàn toàn giống nhau.
Phong cách Hồ Chí Minh là phong cách của người Việt Nam. Song, đây là phong cách của một con người với cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí mẫn tuệ, cái hành mực thước, phong cách của một lãnh tụ, một chiến sĩ cộng sản chân chính, công dân số một của Việt Nam. Đó là phong cách của người anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại. Phong cách Hồ Chí Minh không phải chỉ để cho mọi người ca ngợi, chiêm ngưỡng, sùng bái mà là tấm gương để mọi người noi theo, học tập. Không phải chỉ người Việt Nam, từ lao động chân tay đến người lao động trí óc, từ già đến trẻ, từ miền xuôi đến miền ngược, từ người tu hành đến các chính khách, thương gia đều tìm thấy ở Hồ Chí Minh phong cách của chính mình, mà cả người nước ngoài ở phương Đông hay phương Tây cũng cảm thấy gần gũi, không xa lạ với phong cách Hồ Chí Minh.
Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức, song phong cách không phải là đạo đức mà là những phẩm chất đạo đức được nhận thức và được thể hiện ra trong hoạt động sống của con người. Nói phong cách khiêm tốn, giản dị chính là phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính được con người nhận thức và thể hiện trong cuộc sống đời thường. Song mức độ khiêm tốn giản dị cũng khác nhau ở những con người khác nhau.
Phong cách Hồ Chí Minh là một chỉnh thể, phát triển theo lôgíc đi từ suy nghĩ (phong cách tư duy) đến nói, viết (phong cách diễn đạt) và biểu hiện ra qua hoạt động sống hàng ngày (phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt).

2. Hệ thống phong cách Hồ Chí Minh
2.1. Phong cách tư duy
Mục đích tư duy của Hồ Chí Minh là suy nghĩ từ những cứ liệu thực tiễn Việt Nam, từ những di sản tư tưởng của những người lớp trước và những người đương thời để đi tới xác định tư tưởng của chính mình. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của một quá trình tư duy khoa học. Phong cách tư duy đóng vai trò trực tiếp dẫn đến việc xác lập tư tưởng Hồ Chí Minh. Mặt khác, căn cứ để tìm hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh lại chính là tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong các di cảo và hành động của Người. Đồng thời, cũng cần tìm hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh thông qua dường lối, quan điểm của Đảng và những học trò gần gũi với Người, đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
2.1.1. Nét đặc sắc nhất, cái bản chất nhất của phong cách tư duy Hồ Chí Minh là độc lập, tự chủ và sáng tạo.
Với Hồ Chí Minh độc lập là không lệ thuộc, không phụ thuộc, không bắt chước, theo đuôi, giáo điều. Tự chủ là chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ của mình, tự chịu trách nhiệm trước dân, trước nước, biết làm chủ bản thân và công việc. Sáng tạo là vận dụng đúng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù. Đồng thời sáng tạo cũng là tìm tòi, đề xuất những cái mới mà có thể trả lời được những đòi hỏi của cuộc sống đặt ra. Cái mới sáng tạo của Hồ Chí Minh là cái mới phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, đồng thời phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Cái mới có thể bao hàm giá trị của cái cũ nhưng vượt lên trên và bổ sung giá trị mới. Cái mới cũng là cái chưa có tiền lệ trong lịch sử.
Nhờ phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Hồ Chí Minh mà những quy luật của cách mạng Việt Nam được phát hiện. Chính các quy luật đó đã xác lập nên hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư duy độc lập, tự chủ ở Hồ Chí Minh có từ rất sớm. Nó phát triển và trở thành sáng tạo khi Hồ Chí Minh tiếp nhận phương pháp tư duy khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin với hạt nhân cơ bản là phép biện chứng duy vật. Bằng phương pháp tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tìm ra những cách đánh địch chưa có trong từ điển, cũng như kinh nghiệm quân sự thế giới, đã tạo ra các phương thức đấu tranh có thể coi là kinh điển của phong trào giải phóng dân tộc, đã làm nên những thắng lợi có ý nghĩa thời đại, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ và mở đầu thất bại của chủ nghĩa thực dân mới trên phạm vi thế giới. Cũng chính bằng phương pháp tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã đưa Việt Nam, một nước kinh tế kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong điều kiện thế giới đầy biến động.
2.1.2. Những nguyên tố trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh
Thứ nhất, tư duy trên những cứ liệu thực tế Việt Nam.
Mọi trăn trở suy nghĩ của Hồ Chí Minh đều nhằm cái đích là cứu nước, cứu dân, là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người dân sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên tư duy của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở chỗ tìm đường mà còn tìm cách hiện thực hoá con đường đã tìm thấy cho cách mạng Việt Nam.
Việc tìm đường và dẫn đường cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ thực tế Việt Nam. Đó là thực tế đã được nhận thức đúng đắn, gạt bỏ những tính phiến diện, bề ngoài, sai lệch mà tư duy thường ngày dễ mắc phải. Đó là thực tế đã được nhận thức dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, bằng phương pháp biện chứng duy vật để phân tích cụ thể tình hình cụ thể của cách mạng Việt Nam. Thực tế mà Hồ Chí Minh cần nắm được là thực tế với bản chất bên trong của nó, với những đặc điểm, mâu thuẫn nội tại và phát hiện ra những quy luật vận động của đất nước, dân tộc để hoạch định đường lối, chủ trương đúng và tổ chức thực hiện thành công đường lối, chủ trương đó.
Xuất phát từ thực tế Việt Nam để tư duy đã làm cho phong cách tư duy Hồ Chí Minh vượt lên so với các nhà yêu nước thuộc thế hệ trước và cùng với thời Hồ Chí Minh.
Thứ hai, rộng mở tư duy trên cơ sở nghiên cứu, nắm bắt các tư tưởng và học thuyết đã có.
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã theo học Nho học, tiếp cận Phật giáo, Thiên chúa giáo, làm quen với tư tưởng của các nhà khai sáng và cách mạng tư sản Tây Âu. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh còn tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc), thuyết Bất bạo động của Găngđi (Ấn Độ).
Ở Hồ Chí Minh không có sự thành kiến đối với bất kỳ tư tưởng, học thuyết nào. Trung tâm sự suy nghĩ của Hồ Chí Minh là rút ra những gì cần thiết cho cách mạng Việt Nam phù hợp với dân tộc Việt Nam, giúp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước. Người suy ngẫm so sánh, chắt lọc điều hay lẽ phải, phân biệt đúng sai, hay dở, tiến bộ hay lạc hậu, phù hợp hay không phù hợp với Việt Nam trên cơ sở phương pháp luận mácxít và quan điểm lập trường của giai cấp công nhân, vì lợi ích của nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Hiếm có một nhà lý luận mácxít nào, hơn nữa lại là lãnh tụ cộng sản đã có những nhận xét chính xác về các học thuyết lớn trong lịch sử tư tưởng nhân loại như Hồ Chí Minh.
Theo Hồ Chí Minh: “Học thuyết của Khổng tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dạt Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”. Song Người cũng chỉ rõ rằng, đạo Phật, tôn giáo Giêsu, đạo Khổng đều là những học thuyết không cách mạng. Bởi vì, tuy các học thuyết đó rất giàu tình thương yêu con người, nhưng không vạch ra cho con người con đường tự giải phóng mà khuyên họ cam chịu, trói tộc họ trong trật tự đương thời, thậm chí còn phát ngôn bênh vực những kẻ bóc lột, chống lại những người bị áp bức. Phải có một tư duy rộng mở, không định kiến mới có những nhận xét sát thực như vậy. Ở thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người biết sử dụng các nhân tố hợp lý trong các học thuyết lớn của nhân loại làm cơ sở cho hệ thống lý luận của mình.
Thứ ba, hướng tới cái mới, cái tiến bộ, mở rộng tầm nhìn ra thế giới để tư duy.
Cái mới, cái tiến bộ là tài sản chung của nhân loại không thuộc sở hữu của riêng ai. Để nắm bắt được nó đòi hỏi mỗi người cần có vốn tri thức nhất định, nhất là để sử dụng, ứng dụng cái mới, cái tiến bộ vào cuộc sống thì vốn kiến thức càng phải phong phú, đa dạng và sâu rộng. Khi không đủ trình độ tiếp cận với cái mới, cái tiến bộ mà lại muốn sử dụng, ứng dụng nó sẽ dẫn đến làm hỏng cái mới và phá hoại cái hiện có. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Sự ngu dốt này sẽ dẫn đến sự ngu dốt khác, hơn nữa dốt nát cũng là một thứ giặc, cũng là một kẻ địch cần phải tiêu diệt. Để chiến thắng sự dốt nát chỉ có con đường duy nhất là không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt của con người. Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn mọi người hãy nhớ lời Lênin: học, học nữa, học mãi. Đối với Hồ Chí Minh, học trong các trường chỉ là khởi đầu, cái ảnh hưởng lớn đến phong cách tư duy của Người là học trong trường đời. Hồ Chí Minh vừa hoạt động thực tiễn vừa tự học, vừa tổng kết kinh nghiệm để từng bước đi đến đỉnh cao của trí tuệ, của văn minh. Từ một người yêu nước, một người cộng sản, Hồ Chí Minh đã trở thành nhà văn hoá kiệt xuất của nhân loại thông qua con đường tự học là chủ yếu. Việc biết nhiều ngoại ngữ, trong đó có những tiếng thông thạo gần như tiếng mẹ đẻ đã giúp Hồ Chí Minh mở rộng tầm nhìn ra thế giới và nhìn suốt lịch sử văn hoá – văn minh nhân loại.
Ba nguyên tắc nêu trên cố kết, gắn bó chặt chẽ vơi nhau, trong quá trình phát triển tư duy độc lập tự chủ sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Phong cách tư duy độc lập, tự chủ sáng tạo Hồ Chi Minh cũng thể hiện rõ nét bản lĩnh của Người.
Qua phong cách tư duy Hồ Chí Minh ta thấy một bản lĩnh vững vàng, một tinh thần dũng cảm, dám chịu trách nhiệm trước kết quả tư duy của mình. Tư duy xơ cứng, giáo điều là xa lạ và Hồ Chí Minh, tự nhận và thật sự là học trò của Mác, Ăngghen, Lênin nhưng Hồ Chí Minh không tự trói mình và bắt mọi người phải tuân theo những câu chữ của các nhà kinh điển mácxít. Trong lúc nhiều nhà lý luận mácxít ngại nói đến chủ nghĩa dân tộc, đồng nhất chủ nghĩa dân tộc với tư tưởng hẹp hòi, phản động, thì Hồ Chí Minh tư duy từ thực tế Việt Nam lại khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Người còn yêu cầu “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản” (10) .
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh đã phản ánh đúng cuộc sống, phản ánh đúng cái bất biến trong sự vạn biến sôi động của cuộc sống, do vậy những tư tưởng, kết quả của tư duy Hồ Chí Minh không lạc hậu mà đã mở đường cho cuộc sống đi lên phía trước.
2.2. Phong cách diễn đạt
Mỗi người đều có phong cách diễn đạt tư tưởng của mình bằng ngôn ngữ nói và viết. Những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh là những căn cứ thuận lợi để tìm hiểu phong cách diễn đạt của Người.
2.2.1. Sức cuốn hút mạnh mẽ đối với người nghe và người đọc trong phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là kết quả của sự kết hợp hài hoà cái dân gian với cái bác học, cái cổ điển, truyền thống với cái hiện đại, giữa phong cách phương Đông và phong cách phương Tây
Đây là nét đặc sắc trong phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh. Có được điều đó là do Hồ Chí Minh đi nhiều, đọc nhiều, tiếp xúc với nhiều tầng lớp, nhiều hạng người khác nhau ở những quốc gia khác nhau, tìm hiểu và học ở họ những cách diễn đạt đặc trưng nhất. Có tri thức uyên bác, nhưng không phải ai diễn đạt cũng cuốn hút được người nghe, người đọc nếu tâm hồn và trái tim họ không hài hoà đập cùng nhịp với người đọc, người nghe, không nói tiếng nói, không viết bằng văn phong của người đọc, người nghe.
2.2.2 Nguyên tắc nhất quán trong phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là xác định rõ chủ đề, rõ đối tượng và mục đích cần truyền đạt, từ đó mà tìm cách nói, cách viết cho đúng chủ đề, phù hợp với đối tượng nhằm đạt mục tiêu đề ra
Hồ Chí Minh đặt cho mình và cũng yêu cầu mọi người thực hiện bốn vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau khi diễn đạt, đó là:
Nói, viết cái gì? Nói, viết cho ai? Nói, viết để làm gì? Nói viết như thế nào?
Trong bốn vấn đề trên thì “cái gì”, “cho ai”, “để làm gì” quyết định cách thể hiện “như thế nào?”.
Ngược lại, cách thể hiện, cách diễn đạt làm cho nội dung nói, viết đúng chủ đề, đối tượng và đạt được mục đích nói và viết. Nếu không xác định rõ chủ đề, đối tượng, mục đích và tìm được cách thể hiện phù hợp thì mọi bài nói, bài viết đều không có tác dụng.
2.2.3. Đặc điểm của phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, diễn đạt chân thực
Những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh bao giờ cũng đem lại cho người nghe, người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Những tư liệu, sự kiện mà Người đề cập bắt nguồn từ thực tế cuộc sống đã được suy xét, kiểm tra, chọn lọc. Bằng những sự kiện, tư liệu đó, Hồ Chí Minh không phải lý giải dài dòng nhưng có sức thuyết phục cao đối với người nghe, người đọc.
Từ đặc điểm trong phong cách diễn đạt của mình, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên khi nói và viết, “điều gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Không nên nói ẩu” (11) , viết “phải đúng sự thật, không được bịa ra” (12) , “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ chớ nói, chớ viết”, “khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn” (13) . Thiếu chân thực, giả dối trong nói và viết sẽ làm giảm niềm tin của quần chúng với cách mạng, làm cho lãnh đạo không thấy đúng tình hình để đề ra chủ trương giải pháp thích hợp; tạo điều kiện cho địch lợi dụng chống phá ta.
Thứ hai, diễn đạt ngắn gọn
Nói chung các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh đều ngắn gọn, nhiều ý tưởng lớn được khái quát như những châm ngôn. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ví dụ.
Theo Hồ Chí Minh, ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, có đầu có đuôi “có nội dung”, “thiết thực”, “thấm thía chắc chắn”.
Để có cách nói, cách viết ngắn gọn trước hết phải có tư duy mạch lạc, ngôn từ phong phú, vốn sống dồi dào, đồng thời cũng phải rèn luyện công phu. Không phải ngay khi sinh ra Hồ Chí Minh đã biết nói ngắn gọn mà phải thông qua quá trình tự học, tự rèn, thông qua những cuộc tranh luận, những buổi diễn thuyết v.v… Người mới có cách diễn đạt cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, chữ thừa.
Thứ ba, diễn đạt giản dị, trong sáng, dễ hiểu
Trong sáng trong văn phong và ý tưởng, giản dị trong trình bày thể hiện, dễ hiểu đối với mọi đối tượng nghe, đọc là đặc điểm các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh.
Muốn nói, viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, theo Hồ Chí Minh trước hết phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng. Vì “cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn” (14) . Hiểu dân, gần dân, học dân thường ngày và học trong ca dao, tục ngữ, trong dân gian, cổ tích mà Hồ Chí Minh có thể phổ thông hoá những vấn đề phức tạp đôi khi còn xa lạ với dân chúng, giản đơn hoá những vấn đề khó hiểu. Chính vì vậy mà tư tưởng của Người đến với mọi người, bằng những ngôn từ quen thuộc dễ hiểu, dễ nhớ, nhiều khi còn dễ thuộc vì có vần có nhạc trong văn.
Là một người đọc nhiều, hiểu rộng, biết nhiều ngoại ngữ nhưng khi nói, khi viết bao giờ Hồ Chí Minh cũng sử dụng một loại ngôn ngữ tùy theo đối tượng người nghe, người đọc. Đặc biệt nói và viết cho quần chúng nhân dân bao giờ Người cũng trở về với ngôn ngữ dân tộc, dùng cách nói của nhân dân. Người phê phán gay gắt những người ham dùng chữ, hay nói chữ, sính dùng chữ, tiếng nước ngoài.
2.3. Phong cách làm việc
Hồ Chí Minh đã từng làm nhiều việc để sống và hoạt động cách mạng, đảm nhận những trọng trách, công việc khác nhau của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Điều mà Hồ Chí Minh quan tâm là lối làm việc của người cách mạng, của chiến sĩ cộng sản suốt đời chiến đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Do vậy, trong phong cách làm việc, Hồ Chí Minh lưu tâm trước hết đến phong cách công tác và phong cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên. Về mặt này, Người đã để lại cho chúng ta nhiều giáo huấn quan trọng với những nội dung phong phú. Dưới đây là những nội dung chủ yếu nhất:
2.3.1. Phong cách làm việc quần chúng
Đây là nội dung quan trọng hàng đầu của phong cách làm việc Hồ Chí Minh, được thể hiện bằng những hành động cụ thể:
– Sâu sát quần chúng, chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, quan tâm đến mọi mặt đời sống của quần chúng.
– Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót.
– Giáo dục, lãnh đạo quần chúng, đồng thời không ngừng học hỏi quần chúng, tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng theo tinh thần cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
– Tự mình phải mẫu mực để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân.
Với phong cách như trên, Hồ Chí Minh đến với dân một cách tự nhiên, bình dị, quần chúng đến với Người cũng bình dị, tự nhiên, không chút e ngại như họ vẫn sống hàng ngày. Tác phong quần chúng đã làm cho Hồ Chí Minh và nhân dân, lãnh tụ và quần chúng hoà nhập, đồng cảm sâu sắc. Dân có thể nói hết suy nghĩ, trăn trở của mình với lãnh tụ, còn lãnh tụ có thể nghe được, hiểu được những gì mà cuộc sống đang đòi hỏi, mong chờ.
Theo Hồ Chí Minh, không chỉ quan hệ giữa cán bộ với dân mà quan hệ cán bộ với cán bộ, cấp trên với cấp dưới cũng cần thiết phải có tác phong quần chúng. Đối với người lãnh đạo cấp trên, việc hiểu dân và hiểu cấp dưới đều quan trọng như nhau. Hiểu được dân và hiểu được cấp dưới người lãnh đạo cấp trên càng hiểu được chính mình.
2.3.2. Phong cách làm việc tập thể, dân chủ
Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước dân chủ, ở đỉnh cao của quyền lực nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh.
Chuyên quyền, độc đoán là rất xa lạ đối với Hồ Chí Minh. Nhiều lần Người đã phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, do đó mà người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phát biểu “không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ” (15) .
Hồ Chí Minh trân trọng ý kiến của mọi người không phân biệt chức vụ, cấp bậc. Đẳng cấp, gia trưởng không bao giờ có ở Hồ Chí Minh. Người đã chuyển nhiều bài viết của mình cho các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đọc và góp ý kiến trước khi công bố. Người trao đổi với các đồng chí phục vụ những bài báo ngắn để sửa chữa những chỗ viết còn khó hiểu trước khi đăng.
Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết là những người lãnh đạo phải có tác phong tập thể dân chủ thực sự. Bởi vì, mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.
2.3.3. Phong cách làm việc khoa học
Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xây dựng cho mình “cách làm việc khoa học” trong công tác, trong lãnh đạo. Bởi vì họ đều xuất thân từ một nước với những tàn dư của một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, làm việc theo lối “thủ công nghiệp”, với hàng loạt thói quen thiếu khoa học như: tự do, tùy tiện, gặp chăng hay chớ, thiếu kế hoạch, thiếu điều tra nghiên cứu, thiếu ngăn nắp trật tự, luộm thuộm, lề mề, chậm chạp, không coi trọng thời gian, không cụ thể, không thiết thực, bảo thủ, trì trệ, thiếu nhìn xa trông rộng…
Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh thể hiện chủ yếu ở những điểm sau:
– Làm việc cần phải “đi sâu, đi sát, điều tra, nghiên cứu” nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể.
– Làm việc phải có mục đích rõ ràng, tập trung; chương trình kế hoạch đặt ra phải sát hợp. Hồ Chí Minh giải thích: “ Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào” (16) .
– Làm việc phải kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng.
– Lãnh đạo phải cụ thể, phải kịp thời, phải thiết thực, phải có trọng điểm, phải nắm điển hình; cần phải lãnh đạo toàn diện và cụ thể. Người lãnh đạo phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, phải cẩn thận mà nhanh nhẹn kịp thời, làm đến nơi đến chốn. Hồ Chí Minh phê phán kiểu làm cho có chuyện, làm được ít, xuýt ra nhiều để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuyếch.
– Phải thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn. Sau mỗi việc cần phải rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm riêng từng cán bộ, từng địa phương, kinh nghiệm chung tất cả các cán bộ, các địa phương, kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công, để học những kinh nghiệm hay, tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới (17) .
Ở Hồ Chí Minh, phong cách làm việc quần chúng, tập thể dân chủ, khoa học, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một phong cách làm việc rất hiện đại. Phong cách đó đã cần thiết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá khứ mà càng cần thiết cho họ trong điều kiện mở cửa, thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
2.4. Phong cách ứng xử
Phong cách ứng xử của mỗi người được biểu hiện qua ngôn từ, cử chỉ, phong thái và phong độ của con người. Nó bắt nguồn từ nhân cách, trình độ hiểu biết, khí chất, vốn sống và bản lĩnh chính trị của họ. Mỗi người có phong cách ứng xử riêng tùy thuộc môi trường, hoàn cảnh sống và địa vị xã hội.
Hồ Chí Minh giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau. Tùy theo đối tượng và địa bàn mà Người có cách ứng xử thích hợp. Trong phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, nổi trội vẫn là cách ứng xử của một nhà chính trị chuyên nghiệp, một nhà văn hoá kiệt xuất. Ở Hồ Chí Minh chính trị và văn hoá hoà quyện với nhau, chính trị mang tính văn hoá và văn hoá có tính chính trị.
Đặc trưng cơ bản của phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là phong cách ứng xử văn hoá. Ứng xử văn hoá Hồ Chí Minh thể hiện trước hết ở ngôn từ, cử chỉ Người dùng thích hợp và đúng với đối tượng giao tiếp.
Qua phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh ta thấy đó là con người ân cần, niềm nở, tự nhiên, luôn có sự hoà đồng giữa lãnh tụ với thường dân, giữa chủ với khách. Với nhân dân, anh em, bè bạn đồng chí, đồng bào, phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh bình dị, khiêm nhường, không tự đặt mình cao hơn người khác, mặc dù Người uyên bác về trình độ, vĩ đại trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân, giải phóng con người, có quyền cao chức trọng trong xã hội. Người sẵn sàng xưng cháu với cụ Phụng Lục, giả làm ngựa cho trẻ em cười chơi… Càng khiêm nhường, Hồ Chí Minh càng được nhân dân kính trọng, tin cậy.
Với kẻ thù của cách mạng hay những người ở phía bên kia, phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh là tự chủ và lịch lãm, bình tĩnh và đĩnh đạc, chủ động và tỉnh táo để vượt qua mọi cạm bẫy, đẩy lùi mọi đòn tiến công hiểm độc và mọi thủ đoạn xảo trá của đối phương. Phong cách đó đòi hỏi một sự tinh tế cao trong từng lời, từng chữ, từ cái nhìn đến bước đi, thế đứng, từ cái vẫy tay đến cái bắt tay đúng lúc, đúng kiểu…
Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh chứa đựng những giá trị nhân bản của con người. Yêu thương, quý mến, trân trọng con người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Khi cần nhắc nhở, Người không quên chỉ vẽ tận tình, khi cần phê bình, Người rất nghiêm khắc, nhưng rất rộng lượng, bao dung mà không bao che, nhằm nâng con người lên chứ không hạ thấp, vùi dập con người.
2.5. Phong cách sinh hoạt
Đã có biết bao nhiêu lời ca ngợi phong cách sinh hoạt của Hồ Chí Minh. Đó là sự giản dị, trong sạch, thanh cao, cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian. Đó còn là tình yêu thương con người hoà quyện với tình yêu thiên nhiên, tạo nên tinh thần lạc quan của người chiến sĩ kết hợp chặt chẽ với những rung động, say mê của một tâm hồn nghệ sĩ.
Hồ Chí Minh có cuộc sống đời thường đa dạng và phong phú. Người đã sống cuộc sống của người thợ, người thủy thủ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, học viên, người lính trong chiến tranh, người chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật, người tù, nhà chính khách, nhà ngoại giao và nhiều năm là nguyên thủ quốc gia. Dù với cuộc đời nào và sống như thế nào, phong cách sinh hoạt của Hồ Chí Minh vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn giản dị làm nền, lấy chừng mực điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui, lấy gắn bó giữa con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.
Phong cách sinh hoạt của Hồ Chí Minh đã làm cho Người trở thành người toàn vẹn, với cuộc sống trọn vẹn từ khi bước vào đời đến lúc về nơi vĩnh hằng. Để trở thành một người toàn vẹn đã khó (vĩ đại trong những việc lớn, cao thượng ở những việc nhỏ hàng ngày) thì việc trở thành người trọn vẹn lại càng khó hơn. Hồ Chí Minh đã có lời khuyến cáo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”
––––––––––––––––
Chú thích:
* Theo Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị – Hành chính, H.2011.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.8, tr.227.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.2, tr.262.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.8, tr.261.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.295.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.12, tr.212.
6. T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện , Nxb. Sự thật, 1994, tr. 15.
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.12, tr.108.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.2, tr.455.
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.4, tr.463.
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.366.
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.1, tr.466-467.
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.6, tr.78.
13. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.12, tr.559.
14. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.302.
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.301.
16. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.280.
17. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.374,304.
18. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.304.
19. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.12, tr.557-558.
20. Tạp chí Cộng sản , số 17, tháng 9-2001, tr.8.


