
Trong không gian mạng hiện nay, không khó để bắt gặp những bài viết mang danh “nghiên cứu”, “trăn trở thời cuộc”, cố tình nhặt nhạnh một vài sự kiện lịch sử để đi đến kết luận rằng: Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời từ thế kỷ XIX nên đã lỗi thời; Liên Xô sụp đổ là bằng chứng cho sự phá sản của học thuyết; Việt Nam phát triển kinh tế thị trường thì việc tiếp tục lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng là khiên cưỡng, cản trở sự phát triển.
Đây là một dạng ngụy biện tinh vi bằng cách “nói nửa sự thật”. Việc nhận diện đúng đắn bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn đổi mới của Việt Nam không chỉ là yêu cầu bảo vệ tư tưởng, mà còn là cơ sở củng cố niềm tin khoa học cho mỗi cán bộ, đảng viên trên con đường đi tới phồn vinh, hạnh phúc.
Từ bản chất khoa học, cách mạng đến tinh thần “mở” của một học thuyết vĩ đại
Chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là một tập hợp các công thức xơ cứng hay những lời tiên đoán mang tính giáo điều. Giá trị bền vững nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin chính là thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, công cụ tư duy sắc bén giúp con người nhận thức đúng đắn quy luật vận động khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy.
C.Mác và Ph.Ăngghen chưa bao giờ coi lý luận của mình là một cái gì đó hoàn chỉnh, bất khả xâm phạm. V.I. Lênin từng nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn… trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt…”. Chính đặc tính “mở”, khả năng tự đổi mới và bổ sung từ thực tiễn đã tạo nên sức sống trường tồn của học thuyết.
Một học thuyết cung cấp phương pháp luận để cải tạo thế giới thì không thể “hết hạn” chỉ vì thời gian trôi qua, cũng như các luật cơ học của Newton hay thuyết tương đối của Einstein không bị vô hiệu hóa khi nhân loại bước vào kỷ nguyên số. Ngay tại các quốc gia tư bản phát triển, mỗi khi khủng hoảng kinh tế hay bất bình đẳng xã hội bùng nổ, các nhà khoa học và chính trị gia phương Tây vẫn phải tìm về các tác phẩm của C.Mác để giải mã bản chất của tư bản và thị trường.
Đối với cách mạng Việt Nam, ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng lý luận đầu tiên cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam khi chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.
Nhìn thẳng vào sự sụp đổ của mô hình Liên Xô: Bài học về sự giáo điều, xa rời nguyên tắc Mác-xít
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (1989 – 1991) là một tổn thất to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng: “Đó là sự sụp đổ của một mô hình thể chế cụ thể với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và sự xơ cứng về lý luận, chứ tuyệt nhiên không phải là sự phá sản của chủ nghĩa Mác – Lênin với tư cách là một học thuyết khoa học”.
Nguyên nhân sâu xa khiến Liên Xô sụp đổ chính là do các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã vi phạm nghiêm trọng phương pháp luận Mác-xít: một mặt biến lý luận thành giáo điều xơ cứng, chậm tổng kết thực tiễn; mặt khác, khi tiến hành cải tổ lại rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại, buông lỏng nguyên tắc tổ chức và từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là sự trả giá cho việc xa rời và làm trái chủ nghĩa Mác – Lênin, chứ không phải do chủ nghĩa Mác – Lênin gây ra.
Chính từ bài học đau xót đó, các Đảng Cộng sản kiên trung trên thế giới, đặc biệt là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã thức tỉnh, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật để tiến hành đổi mới, cải cách, đưa chủ nghĩa xã hội bước vào chặng đường phát triển mới với những thành tựu rực rỡ.
Thực tiễn 40 năm Đổi mới tại Việt Nam: Minh chứng sinh động cho sự vận dụng và phát triển sáng tạo
Quy kết Việt Nam phát triển kinh tế thị trường là “từ bỏ” chủ nghĩa Mác – Lênin là một sự thiếu hụt nghiêm trọng về tri thức lý luận. Trong kho tàng lý luận Mác – Lênin, V.I. Lênin với Chính sách Kinh tế mới (NEP) đã đặt nền móng cho việc sử dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ và kinh tế tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước xuất phát điểm thấp.
Sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin tại Việt Nam không nằm ở việc nhắc lại những công thức có sẵn, mà nằm ở năng lực vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của dân tộc. Trải qua 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới (1986 – 2026), Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định và phát triển sáng tạo di sản Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từng bước giải đáp thành công bài toán lịch sử về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở một nước nông nghiệp lạc hậu.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (thông qua tại Đại hội VII năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta chính thức khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nâng tầm nhận thức lý luận khi đúc kết bài học có ý nghĩa sống còn: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đây là “Bốn kiên định” mang tính nguyên tắc, tuyệt đối không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động.
Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, qua 40 năm Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được đột phá lý luận lịch sử: xác lập mô hình Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng định: Kinh tế thị trường không phải là đặc trưng riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là sản phẩm chung của văn minh nhân loại; là phương thức, công cụ hiệu quả để giải phóng sức sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn đã chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn này: Từ một nước nghèo đói, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 35 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt, quy mô kinh tế tăng gấp nhiều lần, quốc phòng – an ninh được củng cố và vị thế quốc tế nâng cao chưa từng có. Thành tựu vĩ đại có ý nghĩa lịch sử của 40 năm Đổi mới đã minh chứng sống động rằng: Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Kiên định nền tảng tư tưởng để vững bước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Chủ nghĩa mà Người nói tới chính là chủ nghĩa Mác – Lênin.
Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những thách thức phi truyền thống, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số và chuyển đổi xanh – việc kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên cấp thiết. Kiên định ở đây không có nghĩa là ôm giữ những kết luận cũ kỹ, mà là nắm vững “linh hồn sống” biện chứng, dùng thế giới quan khoa học để giải mã các vấn đề mới của thời đại, tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Mọi luận điệu đòi phủ nhận, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dù xuất phát từ lập trường tư sản phản động hay tư tưởng cơ hội chính trị, thực chất đều là âm mưu tước bỏ “kim chỉ nam” dẫn đường của Đảng, làm suy yếu bản lĩnh và sức chiến đấu của hệ thống chính trị, dọn đường cho sự mơ hồ, dao động và chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên quyết bác bỏ những quan điểm sai trái đó, tiếp tục củng cố niềm tin khoa học, giữ vững định hướng XHCN vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.



